Nền giáo dục Thụy Điển tiên tiến nhất thế giới hiện
nay? (2)
TS Lê Tự Hỷ, TS Toán học,
nguyên giảng viên ĐH Sư phạm TP.HCM Tạp chí Hồn Việt
02:22' PM - Thứ
ba, 20/10/2009
* Chuẩn bị cho khả năng lao động trong nền kinh tế toàn cầu
Nhà trường Mẫu giáo và Tiểu học chú trọng rèn luyện các kỹ năng sống trong xã
hội, còn ở cấp 3 thì học sinh được chuẩn bị lao động theo tinh thần trường Trung
học tổng hợp (Comprehensive High School của Conant, 1959). Trong mỗi học khu ở
Thụy Điển có 16 chương trình Trung học cấp 3 chú trọng về hướng nghiệp
(career-centered programs of study). Những chương trình này được dạy cùng trong
một trường, mỗi thầy thường chỉ làm việc trong một chương trình với quyền tự trị
đáng kể. Bộ Giáo dục Thụy Điển chỉ đưa ra các đề cương tổng quát cho mỗi chương
trình, cho phép thầy giáo và học sinh bàn bạc cùng quyết định với nhau nên học
cái gì. Tất cả 5 môn học chính là tiếng Thụy Điển, tiếng Anh, Toán, Khoa học xã
hội, và Khoa học tự nhiên đều là 5 môn bắt buộc trong mỗi chương trình. Nhưng
những môn này lại được học trong bối cảnh nghề nghiệp riêng của từng chương
trình. Có hai chương trình không tỏ ra hướng nghiệp rõ như 14 chương trình kia
mà nặng về chuẩn bị cho học sinh lên Đại học hay Cao đẳng. Tuy nhiên, dù học ở
14 chương trình hướng nghiệp kia thì học sinh vẫn hợp lệ và đủ trình độ vào Đại
học.
Học sinh tiểu học
trong một chương trình học ở Thụy Điển. Nguồn: internet.
Ở Thụy Điển, thường chỉ 1/3 học sinh tốt nghiệp Trung học được chọn vào Đại
học. Một số học sinh tham gia lực lượng lao động ngay sau khi tốt nghiệp Trung
học. Ngoài 16 chương trình chính quy ra, còn một chương trình thứ 17 là chương
trình dành cho các học sinh vì lý do này hay lý do khác bị loại ra khỏi một
trong 16 chương trình chính quy. Học sinh học theo chương trình 17 là để bổ
sung, củng cố kiến thức để cuối cùng được quay trở về một trong 16 chương trình
chính quy. Trong 16 chương trình này, học sinh được rèn luyện phong cách để
chuẩn bị trở thành người lao động trong nền kinh tế toàn cầu theo 4 chỉ tiêu:
làm việc theo nhóm (teamwork), rèn luyện kỹ năng kỹ thuật thực
dụng (pragmatic technical skills), tập giải quyết vấn đề (problem
solving), và tinh thần dám nghĩ dám làm trong doanh nghiệp
(entrepreneuship). Các phong cách này được rèn luyện thông qua việc từng nhóm
học sinh thực hiện các đồ án dưới sự hướng dẫn của thầy. Quá trình thực hiện đồ
án luôn kèm theo các phân tích có tính phê phán (critical analysis).
Mỗi cộng đồng dân cư đều có một hội đồng gồm các nhà lãnh đạo địa phương trong
các cơ quan chính phủ và các doanh nghiệp thường kỳ tổ chức nói chuyện cho học
sinh nghe về các nhu cầu kinh tế của cộng đồng trong đó nêu rõ các học sinh nên
được chuẩn bị như thế nào để sẵn sàng tham gia lực lượng lao động. Như các nhà
giáo dục hướng nghiệp, hội đồng này cho biết họ mong muốn những gì và họ cảm
nhận học sinh nay đang ở mức nào, đó chính là cách giáo dục hướng nghiệp vững
chắc cho học sinh. Các doanh nghiệp địa phương thường hỗ trợ các phương tiện,
thiết bị cho việc thực hành của học sinh, và sắp xếp tạo công ăn việc làm cho
học sinh tốt nghiệp. Nên biết rằng ở Thụy Điển mọi nhu cầu tài chính của nhà
trường đều do sự đóng góp bắt buộc của các cấp chính quyền.
Dạy và học ngoại ngữ ở
Thụy Điển.
Việc thiết lập và triển khai kế hoạch học tập của riêng mình đòi hỏi học sinh
phải sáng tạo và dám nghĩ dám làm. Hơn nữa, có những buổi học cốt tập cho học
sinh tinh thần dấn thân trong doanh nghiệp học, như học sinh được cho vay một số
tiền để mở doanh nghiệp thực sự trong cộng đồng, thường dưới dạng dịch vụ trực
tuyến (online services). Học sinh được vay tiền từ một ngân hàng địa phương dưới
sự bảo đảm của ban giám hiệu. Tiền vay phải được hoàn trả cho ngân hàng trước
khi học sinh tốt nghiệp. Thống kê cho biết, rất hiếm khi các doanh nghiệp này
làm mất tiền vay.
Tại sao mô hình học đường Thụy Điển này không thể
áp dụng đại trà cho hệ thống giáo dục công lập K-12 ở Mỹ?
Mặc dù, những nhà giáo dục Mỹ biết rằng phương pháp giảng dạy theo chủ thuyết
xây dựng kiến thức tỏ ra ưu việt tại Thụy Điển và chính học giả Mỹ John Dewey
góp phần cổ xúy cách đây gần một thế kỷ (1916), nhưng họ nhận ra rằng rất khó có
thể áp dụng đại trà vào hệ thống giáo dục công lập K-12 của Mỹ vì những lý do
sau đây:
1/ Nền dân chủ xã hội ở Thụy Điển không cho phép sự cách biệt quá lớn về mức
thu nhập kinh tế giữa các công dân. Chính phủ Thụy Điển đã chủ tâm thực thi một
hệ thống kinh tế cho phép mọi công dân có quyền lợi đồng đều, đồng thời cung cấp
phụ phí làm việc (workfare) được xem như hệ thống an sinh xã hội (welfare
system) làm đồng đều lợi ích cho tất cả người có việc làm, ngay cả chỉ làm bán
thời gian (Bjorklund & Freeman, 2005). Do đó, sự cách biệt về mức sống của
một người lao động bình thường với một người có chuyên môn nghiệp vụ cao cấp như
bác sĩ thì không bao nhiêu, không phải “quá trời” như ở Mỹ.
Chính phủ Thụy Điển đã thành công trong việc loại bỏ tương đối tốt về tình
trạng nghèo đói trên phạm vi cả nước, trong khi nghèo đói vẫn đang là một lực
cản mà cải cách giáo dục Mỹ không thể nào vượt qua ở mọi nơi được (Anyon,1997;
Giroux, 2003; Rothstein, 2002).
2/ Người Thụy Điển chấp nhận cải cách mà người Mỹ không chấp nhận do sự khác
biệt về chủ nghĩa cá nhân trong hai nền văn hoá. Nền văn hoá Thụy Điển (cũng như
cho các nước Na Uy, Phần Lan, Đan Mạch) tuy thiên về cá nhân hơn tập thể, nhưng
là chủ nghĩa cá nhân nằm ngang (horizontal individualism), nghĩa là tuy mỗi
người chịu trách nhiệm chính yếu về sự phát triển của riêng mình, nhưng họ sẽ
cảm thấy hổ thẹn như có tội khi quá giàu hay đã làm những điều khiến cho người
khác trở nên nghèo, bởi vì trong thâm tâm họ e ngại việc chấp nhận sự cách biệt
quá lớn về tài sản giữa các công dân trong xã hội. Trái lại, người Mỹ theo chủ
nghĩa cá nhân thẳng đứng (vertical individualism), nghĩa là ai có sức, có tài
thì cứ làm giàu, cứ lên cao còn mặc kệ thiên hạ nằm bệp dí dưới chân. Cho nên,
họ sẵn sàng chấp nhận sự cách biệt lớn lao về tài sản, mà không muốn tạo ra hình
thức an sinh xã hội kiểu Thụy Điển.
Phong cách sống của người Thụy Điển là: “Không một lá cỏ nào có thể vượt cao
hơn những lá cỏ khác, vì lá cỏ ấy sẽ bị cắt trước tiên” (Sandahl,1997). Do đó,
người Thụy Điển biết sống có tình người hơn, không có cái tâm lấn lướt, chà đạp
người khác để mình đi lên, hay vơ vét hết về cho mình, mặc kệ thiên hạ đói
khổ.
3/ Hiện nay, việc điều hành nhà trường trong hệ K-12 ở Mỹ là theo sự chỉ đạo
rất quan liêu từ trên xuống, các thầy giáo phải, phải, phải làm như thế này, thế
kia và học sinh lại càng phải, phải, phải, để cuối cùng làm sao cho học sinh đạt
được ba chỉ tiêu: đúng giờ, biết vâng lời, và làm được bài kiểm tra chuẩn của
bang để nhà trường khỏi phải bị khiển trách hay bị trừng phạt theo luật giáo dục
No Child Left Behind được ban hành trong thời Tổng thống Bush. Hệ thống giáo dục
K-12 của Mỹ đang có 49 tiêu chuẩn khác nhau về chất lượng học tập tuỳ theo từng
bang, chỉ trừ bang Iowa không áp đặt tiêu chuẩn chung cho bang mình. Chính cơ
cấu quản lý nhà trường theo tinh thần quan liêu và phương pháp giảng dạy có tính
áp đặt khiến học sinh cảm thấy bị buộc phải học để đối phó với thi kiểm tra, nên
họ mất hứng thú và mất tính tự giác trong việc học. Hệ quả là nhà trường và thầy
giáo bị mệt mỏi để duy trì ba chỉ tiêu trên. Họ không còn hơi sức đâu để giảng
dạy được như Thụy Điển là rèn luyện cho học sinh các phẩm chất để trở thành
người lao động trong nền kinh tế hậu công nghiệp và toàn cầu. Đó là người học
sinh vui vẻ học tập trong tinh thần tự giác để trở thành người học tập suốt đời,
làm được công việc đòi hỏi kiến thức (knowledge work), biết tự điều chỉnh
(self-regilated), tự định hướng (self-di-rected), tương đối không bị giám sát vì
biết chịu trách nhiệm về các hành động của riêng mình (Delors,1998; Reich, 1991,
2002).
Còn Việt Nam thì sao?
Ở nước ta, cũng có những nhà giáo đầy tâm huyết, thấy được cái lề lối giảng
dạy truyền thống là thầy giảng, trò chép về học những kiến thức “chết cứng”
trong sách với mục đích lặp lại cho được các kiến thức ấy trong các bài thi để
có bằng cấp là sai lầm. Người học trò ngồi thụ động như cái thùng rỗng chờ thầy
rót kiến thức vào. Kiến thức ấy là xưa cũ, sáo mòn mà học trò cốt nhớ để làm bài
thi, rồi quên ngay vì là kiến thức áp đặt từ bên ngoài chứ không phải do học trò
tự thân chứng nghiệm. Do đó, kiến thức ấy đã không hoà tan trong máu thịt học
trò, không giúp họ có thể có những phát kiến vượt qua kiến thức, tạo ra cái mới,
góp phần cải tiến xã hội hiện tại và tương lai.
Văn Miếu – Quốc Tử
Giám
Trong truyền thống mấy nghìn năm văn hiến, dân tộc ta đã có những giá trị đạo
lý làm người như từ bi, hỷ xả; nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; cần, kiệm, liêm,
chính; chí công, vô tư; công bằng, bác ái,... và phương hướng nhận thức thực tại
trong kinh sách nhà Phật vốn đã tiềm tàng trong văn hoá dân tộc từ hai nghìn năm
nay, thừa sức để chúng ta đúc kết lại thành chuẩn mực văn hoá đạo lý sống như
lagom của Thụy Điển và một nền giáo dục phù hợp với tiến bộ khoa học nhưng nhân
bản, coi trọng giá trị đạo lý làm người, biết học hỏi và giúp nhau cùng thăng
tiến, chứ không phải lợi dụng hay chà đạp người khác để thủ lợi cho riêng mình.
Tiếc rằng, chúng ta chưa làm được như vậy.
Ngày nay, đất nước ta đã hòa bình hơn một phần ba thế kỷ, nền giáo
dục đã được cải cách nhiều lần, nhưng vẫn còn đó nhiều vấn đề. Cho nên hẳn là
những người lãnh đạo giáo dục ở mọi cấp tự biết rằng mình đang đảm trách một
nhiệm vụ rất nặng nhọc. Tôi nói là nặng nhọc, khó khăn mà chưa vội nói là vinh
quang như sáo ngữ mà nhiều người thường tán tụng, bởi vinh quang chỉ có được sau
khi đã tạo ra công đức. Nhưng giá trị đạo lý làm người và đường hướng giáo dục
tốt đẹp vẫn tiềm tàng trong văn hoá dân tộc, và kinh nghiệm sẵn có của các nền
giáo dục tiên tiến ở các nước. Nếu từ đó, những vị lãnh đạo giáo dục rút ra được
những bài học kinh nghiệm mà cải tiến giáo dục sao cho nền giáo dục nước ta
thoát khỏi các căn bệnh trầm kha mà các vị đã biết từ lâu nay và hướng tới nền
giáo dục tiên tiến, thì dù quý vị có từ chối, vòng nguyệt quế vinh quang vẫn cứ
được choàng qua đầu quý vị. Nhưng nếu quý vị không làm được như thế, mà còn làm
cho nền giáo dục tồi tệ hơn thì dù không có toà án nào chính thức buộc tội quý
vị, quý vị cũng phải tự biết rằng mình có tội với nhân dân.