Nền giáo dục đại học Hoa Kỳ - Mô hình quản lý giáo dục thành công trên thế giới
Hà Nội Mới - 13/11/2004
Chưa bao giờ những vấn đề về giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng trong thời kỳ mới lại được bàn luận sôi nổi như hiện nay, nhất là khi bản báo cáo về tình hình giáo dục chỉ còn vài ngày nữa là được trình bày trước kỳ họp thứ 6, Quốc hội khoá XI. Nhiều cán bộ quản lý giáo dục, nhà giáo lão thành đã dồn hết tâm huyết đóng góp cho đề án "Đổi mới giáo dục đại học VN"...
Nhiều ý kiến cho rằng để nền giáo dục Việt Nam theo kịp với nền giáo dục khu vực và quốc tế, cần phải tham khảo mô hình quản lý giáo dục bậc đại học được một số nước trên thế giới áp dụng thành công, đặc biệt là mô hình giáo dục đại học của Mỹ. Bởi vì, một "quan niệm giáo dục" đúng đắn sẽ là nền tảng vững chắc để xây dựng thành công "nền giáo dục ĐH đại chúng" cho giáo dục ĐH của Việt Nam. Xin giới thiệu ý kiến của Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến về các trường ĐH Hoa Kỳ sau khi đến thăm các trường ĐH Harvard, Yale, Berkeley và đã có dịp nghiên cứu, tìm hiểu, tiếp xúc với nhiều đồng nghiệp và sinh viên ở ĐH Columbia, ĐH San Francisco, ĐH Irvin
"Dân số Mỹ hơn 250 triệu người, trong đó có khoảng 13,5 triệu sinh viên. Nước Mỹ có hơn 3.500 trường ĐH, phần lớn là đại học cộng đồng (Community College), đây là loại trường "đại trà", phổ cập, học phí không cao. Tuy là bậc đại học nhưng chỉ dạy chương trình đại học năm thứ nhất và năm thứ hai, chất lượng không đồng đều.
Các trường Đại học Tổng hợp (Uneversity) là một loại trường khác hẳn, chương trình đào tạo đủ 4 năm (cử nhân) và có đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ. Sinh viên học đại học cộng đồng có thể chuyển học tiếp ở đại học tổng hợp, nhưng chất lượng giữa các trường đại học tổng hợp cũng có sự chênh lệch rất lớn. Nước Mỹ có khoảng một trăm trường đại học tổng hợp lớn tiên tiến, hùng hậu, trong đó nổi lên những trường danh giá đầu bảng, có uy tín quốc tế như: Đại học Harvard, Đại học Yale, Đại học Cornell, Đại học Columbia, Đại học Berkeley Đây là đầu não của nước Mỹ, đã từng đào tạo ra nhiều chính trị gia, nhiều nhà nghiên cứu khoa học xuất sắc. Như Đại học Harvard có đến vài mươi giải thưởng Nobel. Các vấn đề quốc tế dân sinh cùng những đối nội, đối ngoại quan trọng đều được nghiên cứu ở đây. Những trường này cơ sở vật chất rất đẩy đủ, hiện đại, đặc biệt là cơ sở và trang thiết bị thể dục thể thao. Chẳng hạn ở đại học Harvard có 8 sân quần vợt có mái che, ngoài bể bơi thông thường còn có bể bơi cho người tàn tật.
Còn hệ thống thư viện các trường đại học thì toàn bộ thư mục được đưa vào máy vi tính nên việc tra cứu tiện lợi, nhanh chóng. Biết tôi đang muốn tìm tài liệu về đề tài "Tính hiện đại trong văn học" một bạn đồng nghiệp ở Đại học Columbia dẫn tôi đến một thiết bị trông giống như máy vi tính và ông ta bấm nút từ "modernity" (tính hiện đại), thế là trên màn hình lần lượt hiện lên tất cả 639 đề mục những cuốn sách liên quan đến đề tài này với sự miêu tả chính xác, phân loại rành mạch. Bấm một nút nữa thì tôi nhận được bản in đầy đủ danh sách 639 cuốn sách đó. Cái máy ấy tên gọi là On line Catalog , ở Mỹ khá phổ biến. Như vậy, mối quan hệ giữa đào tạo đặc tuyển và đào tạo đại trà, một vấn đề cơ bản của chiến lược giáo dục, ở Mỹ được giải quyết bằng việc tập trung xây dựng những trường đại học tổng hợp hùng hậu (nơi đào tạo đặc tuyển, coi trọng chất lượng) và phát triển rộng rãi hệ thống đại học cộng đồng (nơi đào tạo đại trà, giải quyết số lượng), tỷ lệ là 1/30, chỉ cần có một trường đại học hùng hậu, thì có thể xây dựng hơn ba chục trường đại học cộng đồng. Ở ta, nếu như có được mươi trường đại học tổng hợp hẳn hoi thì cấp huyện cũng có thể mở được đại học cộng đồng.
Sinh viên tất cả các trường đại học ở Mỹ được học với một đội ngũ giáo viên và giáo sư chất lượng cao. Một số trường, các giảng viên trong trường chỉ đảm nhiệm 1/3 số giờ dạy, 1/3 nữa mời các giảng viên xuất sắc ở các trường trong nước, còn 1/3 còn lại mời các giáo sư nước ngoài. Tôi được biết Edgar Morin, Alain Touraine, Derridas, cố giáo sư Michel Foucault, bốn nhà bác học cự phách của Pháp thường xuyên đến giảng ở các đại học California . Một chính sách chung đối với các giảng viên đại học là giảng dạy 4 hoặc 5 năm thì được nghỉ một năm để tu nghiệp (có thể đến bất cứ trường hoặc viện nào, hoàn toàn do mình chọn, không kể trong nước hay ngoài nước). Chế độ nghỉ dạy để nghiên cứu này được gọi là chế độ sabbatical. Tôi đề nghị Bộ nghiên cứu để thực hiện càng sớm càng tốt chế độ này trong giáo dục đại học ở ta, có một bộ phận không nhỏ cán bộ giảng dạy bị mòn mỏi, cạn kiệt vì hàng chục năm phải lên lớp giảng dạy vượt số giờ tối đa quá nhiều, một phần vì sinh kế, một phần vì bị lạm dụng.
So sánh đại học cộng đồng và đại học tổng hợp, sự chênh lệch và học phí có thể rất cao. Nếu như Đại học cộng đồng học phí khoảng 200 đô la một năm thì học phí ở một trường đại học tổng hợp lớn có thể lên tới 18.000 đô la một năm, tính cả tiền nội trú và sinh hoạt thì một năm có thể tốn khoảng 30.000 đô la.
Phải chăng những trường đại học có thanh thế (thường là chất lượng và học phí rất cao) là độc quyền của con em nhà giàu? Không hẳn như vậy: Nước Mỹ có một thể chế tuyệt vời khá phổ cập và điều kiện tương đối dễ dãi: đó là thể chế cho sinh viên vay tiền để ăn học. Bất kỳ ai có đủ học lực, ngân hàng sẵn sàng cho vay. Bản thân mỗi sinh viên (không kể giầu hay nghèo) sẽ tự quyết định: năng lực và nghị lực của mình có đáng để vay những món tiền lớn cho phép theo học ở những trường đại học lớn hay không? Vả chăng "tiền nào, của nấy", đó là sự đầu tư chất xám cho tương lai: tốt nghiệp ở một trường đại học có thanh thế dễ tìm việc hơn, dễ chọn nơi làm việc tốt (công việc hay, lương cao), do đó việc trả nợ không phải là khó. Phần lớn sinh viên Mỹ vay nợ để học đại học. Bob, một người Mỹ trẻ tuổi khá sõi tiếng Nga nói với tôi: "Thời gian nước Nga bắt đầu cải tổ tôi có nhu cầu biết tiếng Nga và tôi đã vay ngân hàng để sang Nga học tiếng Nga, đến nay vẫn chưa trả xong nợ". Một khi người sinh viên vay nợ để đi học thường học tập một cách nghiêm túc. Thậm chí có những gia đình triệu phú ở Mỹ cũng không "bao cấp " hoàn toàn, mà buộc con em mình phải đứng tên vay ngân hàng để trả học phí.
Học Đại học Y khoa bên Mỹ là hết sức tốn kém. Muốn thi vào trường Y trước tiên phải có bằng tốt nghiệp đại học, ngành nào cũng được (dĩ nhiên, phải có một số học phần liên quan trực tiếp đến ngành y). Như vậy, tốt nghiệp đại học mất 4 năm, học Y mất 4 năm, cộng thêm một năm thực tập, tổng cộng tất cả là 9 năm. Học chuyên khoa mổ tim mất 4 năm, học chuyên khoa mổ óc mất 7 năm nữa (tất cả là 16 năm). Bù lại là bác sĩ y khoa ở Mỹ dễ tìm việc làm, thu nhập cao. Tôi thấy ở nhiều gia đình Việt kiều tiếp theo đợt một lo cho con tốt nghiệp ngành đại học nào đó là đợt hai lo cho con học bác sĩ y khoa. Có một điều tôi không sao hiểu nổi là tại sao ở Mỹ cứ nhất thiết phải tốt nghiệp đại học xong thì mới được thi vào trường y. Một giáo sư đại học Mỹ giải thích cho tôi: "Muốn học được ngành y thì người sinh viên cần phải đủ độ chín chắn, có phương pháp học tập và nghiên cứu khoa học nghiêm túc. Tốt nghiệp đại học là một bằng chứng cho sự chín chắn và trình độ phương pháp luận"
Tôi thích đại học Berkeley không chỉ vì ở đây có hai người bạn thân của tôi là N.C và P.Z đã từng quen biết ở Hà Nội, không chỉ vì ở đây người phụ trách nghiên cứu Đông Nam Á là tiến sĩ Erec Crystal, một con người rất mực hoà nhã và hiếu khách, không chỉ vì ở đây đã từng có phong trào chống chiến tranh ở Việt Nam rất lớn mà bởi lẽ không khí "đại học" ở đây: sự trẻ trung, phóng khoáng, sự hồn nhiên nghiêm túc và sự nghiêm túc hồn nhiên, tinh thần dân chủ và những đam mê trong mọi lĩnh vực hoạt động: Thể thao, nghệ thuật, tri thức Một lần, ở một lối đi cây cối um tùm gần trung tâm tôi thấy có hai dãy bàn, ở mỗi bàn có người ngồi trực, xung quanh bàn chăng khẩu hiệu biểu ngữ, trên bàn là những chồng sách báo và truyền đơn. Mỗi tổ chức của sinh viên có một chiếc bàn ở đây. Những hội đồng hương. Những tổ chức tôn giáo. Những đại diện các phong trào văn hoá - xã hội. Có hai bà đã lớn tuổi trực ở một chiếc bàn xin chúng tôi chữ ký. Họ giải thích: "Chúng tôi lấy chữ ký đòi hỏi chính phủ ra luật cấm không cho ứng cử viên nhận những món tiền ủng hộ vận động bầu cử quá 100 đô la. Sự bầu cử sẽ không công bằng nếu như có những ứng cử viên được sử dụng những món tiền quá lớn để vận động bầu cử. Ở một chiếc bàn khác tôi thấy căng khẩu hiện: "Phản đối lệnh của Hiệu trưởng bãi bỏ chính sách chiếu cố những sinh viên sắc tộc ít người". Người ngồi trực giải thích: "Bãi bỏ chính sách chiếu cố là một bước lùi về dân chủ. Chúng tôi thành lập tổ chức đấu tranh chống lại sự bãi bỏ này". Ở một lối đi khác cũng có một dãy bàn nhưng những người ngồi trực ở đây là những giáo sư, giảng viên. Họ là những người tư vấn giúp đỡ cho sinh viên trong việc lựa chọn những bộ môn, đề tài chuyển sâu, những giáo trình chuyên đề cần ngheTrên thực tế họ làm công việc quảng cáo, rao hàng. Ở nước ta, bộ môn nào cũng đều đã có trong chương trình, sinh viên của chuyên ngành đó dù muốn hay không cũng đều phải theo học, dù cho các thầy dạy bộ môn đó rất kém; còn ở Mỹ, sinh viên được chọn bộ môn. Nếu như có một bộ môn chán quá, không sinh viên nào đăng ký học, thế là các thầy thất nghiệp, không có lý do gì ở lại trường. Nhà trường sẽ giải tán bộ môn đó hoặc tìm một giáo sư giỏi giao cho việc xây dựng lại tổ bộ môn. Một biện pháp cơ bản để nâng cao chất lượng những giáo trình và giảng viên là tạo điều kiện và chế độ sinh viên được quyền chọn bộ môn để học, để thi. Chọn bộ môn là một cách bỏ phiếu dân chủ và công bằng chọn lọc những người thầy. Thương mại trong nhà trường là một vấn đề phải bàn, nhưng tại sao không được xem sinh viên là một khách hàng có quyền chọn những mặt hàng theo nhu cầu và sở thích của mình . Trường có nhà Bảo tàng mỹ thuật riêng, dịp tôi đến đương triển lãm chuyên đề những tranh phong cảnh Anh T.k. XVIII
Đối với nhiều gia đình người Việt ở Mỹ, nuôi dạy con cái học đại học đã trở thành một mục tiêu thiêng liêng, gần như một tôn giáo. Đây là cả một quá trình vật lộn, phấn đấu rất gian khổ của các bậc phụ huynh. Tôi hết sức xúc động và cảm phục khi được biết có những bà mẹ 5 năm liền làm việc một ngày 16 tiếng để có tiền nuôi con ăn học. Ở quận Cam, có hai vợ chồng suốt 10 năm trời làm một ngày hai suất việc, nhờ vậy đã nuôi được 5 người con thành bác sĩ y khoa. Một người bạn cho hay là khoảng 60 phần trăm con em người Việt tại Mỹ được học đại học. Tỷ lệ này một phần nhờ sự nỗ lực của các bậc phụ huynh, nhờ sự cố gắng của các em học sinh, và cũng nhờ chính sách đại học của Mỹ có tính chất dân chủ và phổ cập. Điều đáng mừng là sinh viên người Việt tại các trường đại học Mỹ nói chung học tốt. Một người bạn Mỹ bảo tôi: nhìn vào đội ngũ sinh viên đó thì thấy tương lai Việt Nam sẽ phát triển nhanh".
Để đưa nền giáo dục đại học Việt Nam lên ngang tầm với giáo dục đại học khu vực và thế giới, có thể đương đầu với những thách thức, tranh thủ tối đa những cơ hội của thời đại, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhanh chóng hoà nhập, cần phải có chương trình, chiến lược phát triển giáo dục mang tính giải pháp tổng thể và cụ thể, mà mô hình giáo dục ĐH ở Mỹ là một ví dụ điển hình về việc giải quyết cơ bản các vấn đề mâu thuẫn phát triển giữa quy mô và chất lượng, giải quyết được vấn đề đào tạo, chất lượng của người thầy. Xã hội hoá giáo dục phát triển, học phí tăng cao, nhưng không làm mất đi cơ hội học tập của sinh viên - học sinh nghèo - đó là những điều mà Việt Nam đang quan tâm.