|
Chương
2. BIẾN CỐ NGẪU NHIÊN VÀ XÁC SUẤT
Bài 3. Xác suất có điều kiện,
sự độc lập các
biến cố
3.1
Xác suất điều kiện:
Ví dụ 3.1: Gieo đồng
thời hai con xúc xắc cân đối đồng chất. Ký hiệu Alà
biến cố ‘ tổng số chấm ở mặt trên con xúc xắc bằng 8’,
B là: ‘tổng số chấm ở mặt trên con xúc xắc là số
chẵn’. Tính xác suất của A, của B, của tích A.B.
Giải:
Số khả năng có thể n=6.6=36.
Số khả năng thuận lợi cho bc
A là m= 5 (cặp 2-6, 3-5, 4-4, 5-3, 6-2) .
Theo định nghĩa cổ điển P(A)=
5/36.
Tương tự dễ tính xác suất
P(B)= 18/36=1/2.
Ta thấy nếu B xảy ra có
nghĩa là số cặp có thể xảy ra mà tổng của chúng chẵn là 18 cặp.
Nếu ký hiệu xác suất A với
điều kiện B đã xảy ra là P(A/B) thì xác suất này bằng
P(A/B) =5/18;
Hơn nữa biến cố tích A∩B có
5 cặp thuận lợi nên P(A∩B) = 5/36.
Từ đó tỷ sô ́ .
Vậy 
V́ vậy ta đưa ra định nghĩa xác
suất có điều kiện như sau
Định nghĩa 3.1:
Ta gọi xác suất có điều kiện, ký hiệu P(A/B) của
biến cố A trong điều kiện biến cố B đă xuất hiện là tỉ số:
.
3.2 Công thức xác suất
tích:
Đối với hai biến cố A và B bất ḱ
(của cùng một phép thử) ta có:
.
(3.2)
Công thức (3.2) gọi là công
thức xác suất tích.
Nhận xét 3.1
Công thức xác suất tích còn
có thể viết ,
3.3 Công thức xác suất
toàn phần, công thức Bayès:
Giả sử A1, A2,…,
An là hệ đầy đủ các biến cố của một phép thử và B là
một biến cố trong phép thử đó. Khi đó:
a)
P(B)=P(B/A1)P(A1)+P(B/A2)P(A2)+…+P(B/An)P(An) (3.3)
( được gọi là công thức xác suất
toàn phần, hay đầy đủ).
b)
(3.4)
( được gọi là công thức Bayès).
Ví dụ 3.2:
Sinh viên năm thứ nhất của khoa
giáo dục tiểu học chiếm 37%, năm thứ hai chiếm 33% và năm thứ ba
chiếm 30% số sinh viên của toàn khoa. Tổng kết năm học, năm thứ
nhất có 35%, năm thứ hai có 40% và năm thứ ba có 48% số sinh
viên đạt tiên tiến.
a) Gặp
ngẫu nhiên một sinh viên của khoa đó, t́m xác suất để sinh viên
đó là tiên tiến.
b) Gặp
ngẫu nhiên một sinh viên của khoa không đạt tiên tiến. Hỏi khả
năng em đó là sinh viên học năm thứ mấy nhiều hơn?
Giải:
Ta kí hiệu:
Sk= “Gặp ngẫu nhiên
một sinh viên, em đó đang học năm thứ k”, với k=1, 2, 3.
T= “Gặp ngẫu nhiên một sinh viên,
em đó là sinh viên tiên tiến”.
Ta có:
P(S1)=0,37; P(S2)=0,33;
P(S3)=0,30
P(T/S1)=0,35; P(T/S2)=0,40;
P(T/S3)=0,48.
a)
Áp dụng công thức xác suất đầy đủ
ta có:
P(T) =P(T/S1)P(S1)+P(T/S2)P(S2)+P(T/S3)P(S3)
=0,35.0,37+0,40.0,33+0,48.0,30
=0,4055=40,55%.
Vậy tỉ lệ sinh viên tiên tiến của
cả khoa đạt 40,55%.
b) Áp
dụng công thức Bayès ta có:



Vậy tỉ lệ sinh viên
tiên tiến của năm thứ nhất chiếm 31,94%, năm thứ hai chiếm
32,55% và sinh viên năm thứ ba chiếm 35,51% tổng số sinh viên
tiên tiến của cả khoa. Suy ra khả năng em đó là sinh viên năm
thứ ba nhiều hơn.
3.4 Sự độc lập các biến
cố:
Ta xét bài toán: “ Gieo một đồng
tiền xu và một con xúc xắc. T́m xác suất để xuất hiện mặt ngửa
trên đồng tiền và mặt có số chấm là bội của 3 trên con xúc xắc”.
Mỗi biến cố trong phép thử này có
dạng:
=
“Trên đồng tiền xuất hiện mặt ngửa và con xúc xắc xuất hiện mặt
k chấm”, k=1, 2,…, 6 hoặc
=
“Trên đồng tiền xuất hiện mặt sấp và con xúc xắc xuất hiện mặt k
chấm”, k=1, 2,…,6.
Số biến cố trong phép thử này là
12. Ta phải t́m xác suất của các biến cố:
:
“Trên đồng tiền xuất hiện mặt ngửa và con xúc xắc xuất hiện mặt
3 chấm hoặc mặt 6 chấm”. Có hai biến cố
thuận
lợi đối với .
V́ vậy:

Trực giác cho ta thấy rằng việc
xuất hiện mặt ngửa trên đồng tiền và mặt có số chấm là bội của
ba trên con xúc xắc là hai biến cố xảy ra một cách đọc lập nhau.
Từ phân tích trên ta đi đến định
nghĩa:

Định nghĩa 3.2
Với A và B là hai biến cố của
phép thử. Ta nói rằng hai biến cố A và B là
độc lập với
nhau, nếu:
Ví dụ 3.3
Trên bàn có một túi đựng bài thi
môn Toán và một túi đựng bài thi môn Tiếng Việt. Môn Toán có 70%
số bài đạt điểm giỏi, môn Tiếng Việt có 85% số bài đạt điểm
giỏi. Rút ngẫu nhiên từ mỗi túi một bài thi, t́m xác suất để hai
bài đều đạt điểm giỏi.
Giải:
Ta kí hiệu:
TG= “Rút ngẫu nhiên ta
được bài thi môn Toán đạt điểm giỏi”.
VG= “Rút ngẫu nhiên ta
được bài thi môn Tiếng Việt đạt điểm giỏi”.
Rơ ràng là hai biến cố trên độc
lập với nhau. Vậy ta có:

Chú ư 3.1 : Từ định nghĩa
ta có thể suy ra rằng nếu A và B là hai biến cố độc lập th́ các
cặp biến cố cùng
độc lập .
Nhận xét 3.2:
Về mặt định tính có thể
nói rằng hai biến cố A và B độc lập nếu sự xảy ra (
hay không xảy ra ) của biến cố A không ảnh hưởng đến sự
xảy ra (hay không ) biến cố B.
Ví dụ 3.4
Hai xạ thủ cùng bắn vào một mục
tiêu một cách độc lập. Xác suất trúng đíc của người bắn thứ nhất
bằng 0,75 và của người thứ hai bằng 0,85. T́m xác suất để có ít
nhất một người bắn trúng đích.
Giải:
Ta kí hiệu:
Tk= “Người
thứ k bắn trúng đích”, k=1, 2.
Ít nhất một người bắn trúng đích
là biến cố 
Theo tính chất của xác suất ta
có:

=0,75+ 0,85- 0,75.0,85
=0,9625 0,96
Nhận xét 3.3:
Từ công thức xác suất tích ,
biến cố A và B được gọi là độc lập khi và chỉ khi hoặc
P(A/B)=P(A) hoặc P(B/A)=P(B). |